Béo bụng đe doạ người già
Cùng với nhiều bệnh lý khác, hội chứng chuyển hoá là một trong những mối nguy đe doạ nghiêm trọng sức khoẻ người cao tuổi bởi nhiều biến chứng nguy hiểm. Sự phức tạp của hội chứng này cũng khiến cho việc phòng ngừa và điều trị gặp khó khăn.
Ẩn hoạ của nhiều loại bệnh
Những năm gần đây, thuật ngữ “hội chứng chuyển hoá” trở thành chủ đề rất được quan tâm. Hội chứng này đặc trưng bởi sự xuất hiện đồng thời của một loạt các yếu tố nguy cơ tim mạch và chuyển hoá, với bệnh cảnh lâm sàng và sinh lý bệnh phức tạp. Thành phần chủ yếu của hội chứng là rối loạn dung nạp đường glucose, đề kháng insulin, béo bụng (hay còn gọi béo tạng), rối loạn lipid máu gây vữa xơ động mạch và tăng huyết áp. Gần đây nhất, liên đoàn Đái tháo đường quốc tế đã đưa ra một định nghĩa mới, coi béo bụng (béo trung tâm) là tiêu chuẩn bắt buộc.
Các dạng bệnh của hội chứng chuyển hoá thường gặp là béo phì, tăng nồng độ insulin huyết tương, rối loạn dung nạp glucose và đái tháo đường týp 2. Đề kháng insulin và những hậu quả của nó được xem là một quá trình bệnh học cơ bản quan trọng trong hội chứng chuyển hoá. Ngoài rối loạn dung nạp glucose, đề kháng insulin còn có thể gây tăng huyết áp, tiểu vi đạm niệu, rối loạn lipid máu gây vữa xơ động mạch và tăng hoạt hoá hệ thống thần kinh giao cảm. Đây là những bệnh lý thường gặp ở người cao tuổi và hiện có nguy cơ gia tăng không chỉ ở thành thị mà còn cả nông thôn.
Cái chết luôn rình rập người bệnh
Hội chứng chuyển hoá làm tăng nguy cơ bệnh lý tim mạch và mạch máu não cũng như làm tăng tỷ lệ tử vong do các nguyên nhân này. Các thành phần của hội chứng đều là các yếu tố nguy cơ tim mạch, do vậy hội chứng được dự báo là làm tăng tỷ lệ mắc các bệnh tim mạch cũng như các biến chứng nặng đe doạ tính mạng người bệnh. Do các thành phần này thường xuất hiện cùng nhau, mỗi yếu tố nguy cơ đơn lẻ lại có tác động qua lại, thúc đẩy nguy cơ chung của hội chứng chuyển hoá tăng lên đáng kể. Một số nghiên cứu cho thấy, hội chứng chuyển hoá làm tăng tỷ lệ mắc bệnh tim mạch lên gần gấp đôi, tăng tỷ lệ mắc bệnh động mạch vành và đột quỵ lên gấp ba lần so với những người không có hội chứng. Hội chứng cũng làm tăng một cách rõ rệt tỷ lệ tử vong do nguyên nhân chủ yếu là bệnh tim thiếu máu cục bộ (bệnh động mạch vành).
Khi đi cùng nhau, các thành phần của hội chứng chuyển hoá có thể có các cộng hưởng như béo phì làm tăng đề kháng insulin, đái tháo đường týp 2, tăng huyết áp. Cả đái tháo đường týp 2 và tăng huyết áp đều được biết là các yếu tố nguy cơ của bệnh động mạch vành và quá trình xơ vữa động mạch nói chung... Một số thành phần của hội chứng chuyển hoá và các tình trạng bệnh lý còn làm tăng hoạt động của hệ thống thần kinh giao cảm và cho dù cơ chế là gì thì hoạt hoá thần kinh giao cảm trong hội chứng chuyển hoá đã góp phần gây tổn thương hệ thống tim mạch, tăng tỷ lệ đột tử, tăng áp lực tâm thu và tâm trương.
Không có cách can thiệp chung duy nhất
Phòng ngừa là biện pháp can thiệp quan trọng cho các bệnh nhân bị hội chứng chuyển hoá. Hiện chưa có cách can thiệp chung nào duy nhất cho hội chứng này. Các thành phần khác nhau của hội chứng đòi hỏi phải có các phương pháp điều trị, phòng ngừa và sử dụng các loại thuốc khác nhau, có khi phải dùng lâu dài, bệnh nhân cần tuân thủ đúng chỉ định của thầy thuốc.
Duy trì cân nặng hợp lý: thay đổi lối sống, có chế độ dinh dưỡng phù hợp và tăng hoạt động thể lực vẫn là biện pháp cơ bản điều trị thừa cân, béo phì. Việc phẫu thuật lấy đi mỡ thừa ở bụng có tác dụng làm giảm béo phì nhưng không cải thiện hiện tượng đề kháng insulin và các thông số rối loạn chuyển hoá khác. Điều này cần đặc biệt cân nhắc với những người cao tuổi, kể cả người mới bước sang tuổi 60 vì có nhiều nguy cơ. Gần đây, người ta đã bắt đầu thử sử dụng thuốc để phòng ngừa thừa cân và béo phì. Hầu hết các thuốc có tác dụng làm giảm cảm giác thèm ăn nhưng lại được khuyến cáo không nên dùng vì có quá nhiều tác dụng phụ trầm trọng như độc cho tim, xơ phổi...
Điều trị rối loạn dung nạp đường máu, đề kháng insulin và đái tháo đường týp 2: các rối loạn này đã được điều trị trong vài thập niên gần đây theo nguyên tắc chung như: điều chỉnh trọng lượng cơ thể, chủ yếu thông qua chế độ ăn uống, dùng thuốc... Hiện insulin liệu pháp đã được sử dụng nhiều hơn trong điều trị bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Tuy nhiên, hầu hết các bệnh nhân vẫn cần điều trị thêm các thuốc chống đái tháo đường và trong một số trường hợp cần phối hợp với insulin.
Điều trị tăng đông máu: tình trạng tăng đông máu có thể điều trị bằng thuốc như aspirin liều thấp (80 – 100mg/ngày). Tuy nhiên, không nên điều trị aspirin hay các thuốc chống đông khác một cách thường quy cho tất cả các bệnh nhân có hội chứng chuyển hoá.
Kiểm soát huyết áp: kiểm soát chặt chẽ trị số huyết áp là mục tiêu điều trị quan trọng nhất. Trị số huyết áp mục tiêu cần đạt được là dưới 130/85. Điều trị tăng huyết áp cũng bao gồm thay đổi lối sống, trong đó đặc biệt chú ý chế độ ăn hạn chế muối và giảm uống rượu. Năm nhóm thuốc hạ huyết áp có thể sử dụng nhằm chống lại các biến chứng, gồm: thuốc lợi tiểu nhóm thiazide, thuốc chẹn bêta giao cảm, thuốc chẹn kênh canxi, thuốc ức chế men chuyển và thuốc ức chế thụ thể AT1.
Ổn định lipid máu: điều chỉnh chế độ ăn là hết sức quan trọng trong điều trị rối loạn lipid máu cũng như hội chứng chuyển hoá. Tuy nhiên cũng có nhiều bệnh nhân cần phải điều trị thêm thuốc giảm lipid máu. Hiện có năm nhóm thuốc điều chỉnh rối loạn lipid máu đang được sử dụng là fibrrat, resin, nicotinic acid, statin và ức chế hấp thu cholesterol.
PGS.TS.BS Nguyễn Quang Tuấn
Tin đã đăng
- 3 điều cần biết về sức khỏe mùa đông
- Tỏi: "Thần dược" đối với bệnh nhân cao huyết áp
- Bí kíp ăn uống ngừa loãng xương
- Nhớ lâu nhờ uống nước củ dền
- Dinh dưỡng cho sức khỏe dài lâu
- Bảo vệ sức khỏe từ chanh
- Sẽ có văcxin ngừa ung thư
- Ăn nghệ giúp ngừa gan nhiễm mỡ
- Lợi ích của hạt mù tạt
- Thức ăn phòng chống xơ vữa động mạch
